VIÊM RUỘT DO PARVOVIRUS Phần 1

Viêm ruột do Parvovirus ở chó (Canine Parvovirus Enteritis), còn được gọi là bệnh Parvo, gây ra bởi Canine parvovirus type 2 (CPV-2) thường thấy nhất ở chó con với biểu hiện nôn mửa, tiêu chảy (thường có máu), thờ ơ, chán ăn, sốt và mất nước. Trường hợp nặng, bệnh có thể dẫn đến nhiễm trùng huyết và tử vong. Chó con dễ mắc bệnh vì hệ thống miễn dịch của chúng chưa phát triển đầy đủ. Bệnh được công nhận lần đầu tiên vào năm 1978 và lan rộng trên toàn thế giới trong một đến hai năm sau đó (Carmichael, 2005). Bệnh có thể lây nhiễm sang các động vật có vú khác bao gồm cáo, sói, mèo và chồn hôi. Tỷ lệ tử vong có thể tới 91% khi không điều trị (Holmes et al., 2013).Bệnh không lây cho người, nhưng cần cẩn thận trong việc xử lý các vật liệu nuôi chó do virus có khả năng đề kháng cao, tồn lưu trong phân và môi trường trong thời gian rất dài.
1. Đặc điểm mầm bệnh
Hình thái, cấu trúc Canine parvovirus (CPV) là virus nhỏ, không vỏ bao, bên ngoài là protein capsid có bề mặt gồ ghề (đường kính 18-28 nm), bên trong capsid là gồm một bộ gen DNA sợi đơn tuyến tính (ssDNA) chứa hai gen mã hóa cho một protein khởi đầu sao chép, được gọi là protein phi cấu trúc (NS1 và NS2) và protein capsid (VP1 và VP2).
Phần mã hóa của bộ gen được bao bọc bởi các telomere ở mỗi đầu, tạo thành các vòng lặp quan trọng trong quá trình sao chép (Greene and Decaro, 2012). Các protein cấu trúc (VP1 và VP2) được mã hóa về phía đầu bên phải của bộ gen, trong khi các protein phi cấu trúc được mã hóa về phía đầu bên trái. Protein NS1 đóng một số vai trò quan trọng trong sao chép DNA, nhưng chức năng của NS2 không được biết đến đối với CPV.
Phân loại:
Có hai loại Parvovirus chó được gọi là CPV-1 và CPV-2. Hầu hết các trường hợp nhiễm ở chó được cho là do CPV-2 gây ra (Macintire and Douglass, 2006). Các biến thể CPV-2a và CPV-2b, được xác định lần lượt vào năm 1979 và 1984 (Shackelton et al., 2005). Trong năm 2000, một chủng khác (CPV-2c) được phân lập trên chó ở Ý, Việt Nam và Tây Ban Nha. Chủng này, được gọi là Glu 426 do có sự thay thế axit amin tại vị trí thứ 426, nó là một trong những chủng virus lớn trên toàn thế giới (Decaro et al., 2006). Các biến thể của CPV-2 (2a, 2b, 2c) được xác định bởi đặc điểm của protein capsid (VP) (Mira et al., 2019).
Trước năm 1985, CPV-1 được coi là một loại Parvovirus không gây bệnh do độc lực đối với chó là không chắc chắn, hiếm khi được thấy ở những con chó bị tiêu chảy nhẹ. CPV-1 được phân biệt rõ ràng với các chủng CPV-2 bởi phạm vi tế bào chủ của nó, quá trình đông máu, đặc tính bộ gen và tính kháng nguyên. CPV-1 không phản ứng chéo với CPV-2. CPV-1 chủ yếu gây viêm ruột, viêm phổi, viêm cơ tim, viêm hạch ở chó từ 5 - 21 ngày tuổi.
Phân loại:
Có hai loại Parvovirus chó được gọi là CPV-1 và CPV-2. Hầu hết các trường hợp nhiễm ở chó được cho là do CPV-2 gây ra (Macintire and Douglass, 2006). Các biến thể CPV-2a và CPV-2b, được xác định lần lượt vào năm 1979 và 1984 (Shackelton et al., 2005). Trong năm 2000, một chủng khác (CPV-2c) được phân lập trên chó ở Ý, Việt Nam và Tây Ban Nha. Chủng này, được gọi là Glu 426 do có sự thay thế axit amin tại vị trí thứ 426, nó là một trong những chủng virus lớn trên toàn thế giới (Decaro et al., 2006). Các biến thể của CPV-2 (2a, 2b, 2c) được xác định bởi đặc điểm của protein capsid (VP) (Mira et al., 2019).
Trước năm 1985, CPV-1 được coi là một loại Parvovirus không gây bệnh do độc lực đối với chó là không chắc chắn, hiếm khi được thấy ở những con chó bị tiêu chảy nhẹ. CPV-1 được phân biệt rõ ràng với các chủng CPV-2 bởi phạm vi tế bào chủ của nó, quá trình đông máu, đặc tính bộ gen và tính kháng nguyên. CPV-1 không phản ứng chéo với CPV-2. CPV-1 chủ yếu gây viêm ruột, viêm phổi, viêm cơ tim, viêm hạch ở chó từ 5 - 21 ngày tuổi.
Dịch tễ học:
Hầu hết các loài thuộc họ Canidae (họ chó) đều dễ bị nhiễm bệnh. Sự lây nhiễm trong thực nghiệm có thể được tạo ra ở chồn và mèo, tuy nhiên, sự nhiễm trùng có giới hạn. Parvovirus đã được phân lập từ gấu trúc nhưng khác biệt về mặt di truyền.Các phân lập CPV-2 chỉ gây nhiễm trùng đường ruột ở chó, trong khi các chủng CPV-2a và CPV-2b mới có thể lây nhiễm cho mèo trong các trường hợp thực nghiệm (McCaw et al., 1998).
Chó nhiễm CPV không nhất thiết đều dẫn đến bệnh rõ ràng, nhiều chó nhiễm virus không phát triển các dấu hiệu bệnh lâm sàng, đặc biệt là khi có kháng thể từ mẹ. Bệnh nặng nhất ở những con non, cho đang phát triển có hệ sinh trưởng và một số vi khuẩn đường ruột như Clostridium perfringens, Campylobacter spp., Salmonella spp.
CPV-2 dễ lây lan và hầu hết các trường hợp nhiễm trùng xảy ra do tiếp xúc với phân bị ô nhiễm trong môi trường. Ngoài ra, nước bọt, dịch nôn, dụng cụ thú y, con người và các động vật khác có thể đóng vai trò là vật trung gian. Chó có thể mang virus trên lông hoặc cơ thể trong thời gian ngắn. Viêm ruột CPV-2 cấp tính thể hiện trong khoảng 2–7 ngày sau khi chó tiếp xúc với nguồn lây. Tuy nhiên, chó có thể bài thải virus ra môi trường ít nhất 3 ngày trước khi biểu hiện lâm sàng. Bệnh diễn biến nhanh, đặc biệt là ở chó con.
Sinh bệnh học
Virus xâm nhập qua tiếp xúc miệng với phân nhiễm CPV-2 trong phân, bề mặt hoặc từ nơi chứa virus. Sau khi ăn phải, virus sẽ nhân lên trong mô lympho vùng hầu họng; trong vòng 1–7 ngày, virus sẽ xuất hiện trong máu và bắt đầu lan vào mô. Chó nhiễm CPV-2 trở nên chủ yếu ở giai đoạn không bạch huyết, coinfect với vi khuẩn và ký sinh trùng làm bệnh trầm trọng thêm.
Từ máu, virus đến ruột non, tấn công các tế bào vùng crypt gây tổn thương mô ruột làm giảm hấp thu, gây tiêu chảy nặng. Trường hợp nặng, virus tấn công tủy xương, gây giảm bạch cầu. Điều này làm giảm bạch cầu trung tính và lymphocyte.
Nhiễm trùng thứ cấp do Clostridium, Campylobacter và Salmonella dẫn đến một loạt các biến chứng như tăng đông máu, xuất hiện nội độc tố, nhiễm trùng huyết. Viêm cơ tim do virus có thể xảy ra ở chó con nhiễm huyết (Silverstein and Debrora, 2003). CPV-2 bắt đầu xuất hiện vào ngày thứ 3–4 sau nhiễm, thường xảy ra trước các dấu hiệu lâm sàng 3–4 ngày. CPV-2 dẫn đến giảm bạch huyết do virus nhân lên trong tuyến ức và mô lympho.
Sự phát triển của kháng thể trong cơ thể chó đóng vai trò quan trọng trong việc chấm dứt sự phát triển của Parvovirus. Hiệu quả kháng thể trong huyết thanh được phát hiện từ 3–4 ngày sau nhiễm trùng và có thể tồn tại ổn định trong ít nhất 1 năm (Greene and Decaro, 2012).
Còn Tiếp .. Xem phần 2
Tham khảo thêm những bài viết hay tại nongtraithucung.com
